Chính thức trở thành phóng viên Báo Tiền Phong tháng 5 năm 1976, nhưng bài học đầu tiên về nghề báo tôi được bác Xuân Thủy (XT), Chủ tịch đầu tiên Hội Nhà báo Việt Nam (1950-1962) dạy từ trước đó gần ba năm. Trung tuần tháng 2 năm 1973, đang dịp nghỉ học kỳ, năm thứ ba, Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Vacsava (Ba lan), sau ngót 6 năm xa nhà, tôi may mắn được gặp lại bác XT, khi bác sang thăm chính thức nước bạn, với tư cách Bộ trưởng- Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam, theo lời mời của Bộ trưởngBộ Ngoại giao Ba lan, Stê-phan Ôn-sốp-xki. Mẹ tôi là em ruột bác XT. Bố tôi mất sớm, mẹ đau yếu luôn, nhà lại đông miệng ăn, nên tôi được bác nuôi từ nhỏ. Đầu tháng 5 năm 1968, trong hoàn cảnh Mỹ ném bom ác liệt, trước ngày bí mật lên đường đi Paris, bác chớp nhoáng ghé qua chào ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú và chia tay bác gái cùng lũ nhóc chúng tôi khi ấy đang sơ tán tại cơ quan ông Kim Ngọc ở bãi vải ven sông Cà lồ (xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên). Tôi xa bác từ ngày ấy... … Gặp bác, sau câu chuyện gia đình, bác hỏi tôi, học xong, về nước cháu định sẽ làm nghề gì?. Tôi lễ phép thưa, cháu muốn theo nghề cũ của bác, nghề làm báo. Bác gọi chú Nguyễn Thành Lê (nguyên Phó Tổng biên tập Báo Nhân Dân, Cố vấn kiêm Người phát ngôn Đoàn ta tại Hội nghị Paris, sau này là ủy viên T. Ư Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại TƯ), rồi bảo rằng, nhờ chú Lê mách cháu bí quyết trở thành nhà báo. Có lẽ vì khiêm tốn và tế nhị, ông Nguyễn Thành Lê chỉ vỗ vai tôi, tươi cười, từ chối khéo - cứ hỏi bác cháu là biết hết. Ngay sau buổi làm việc đầu tiên, lúc về phòng nghỉ, bác hỏi tôi cặn kẽ về nội dung báo chí trong giáo trình giảng dạy của trường bạn. Tôi đáp, vì là chuyên ngành văn học, nên chủ yếu họ chỉ trang bị cho sinh viên những kiến thức đủ để nhận biết sự khác biệt giữa văn báo và văn học nói chung, các hình thức và đặc thù của ngôn ngữ báo chí, lịch sử hình thành và phát triển báo chí thế giới…Nghe xong, bác đưa cho tôi cuốn sổ tay rồi giao luôn “bài tập”: “Cháu hãy quan sát thật kỹ buổi chiêu đãi tối nay của Bộ trưởngÔn-sốp-xki. Sau đó viết bài ghi chép báo chí. Không quá 800 từ”. Sáng hôm sau, tôi nộp bài cho bác. Đọc xong, bác lắc đầu: “Cháu viết chưa đạt. Vừa thừa, vừa thiếu. Thiếu hầu hết các chi tiết đặc tả - bộ xương của sự kiện, yếu tố làm cho bài viết có giá trị lâu dài. Đọc xong bài viết của cháu, không ai biết tất cả có bao nhiêu quan khách tham dự; bác, Bộ trưởngÔn-sốp-xki ngồi ở vị trí nào trên bàn tiệc? Số lượng các món ăn, đồ uống?…Thay cụm từ “vào buổi tối”, sao cháu không viết cụ thể là 19 giờ? Tại sao cháu không chọn tư tưởng chủ đạo của hai bài diễn văn, mà lại bê gần như nguyên văn, với không ít nội dung trùng lặp? Khi quan sát sự kiện, yêu cầu phát hiện chi tiết mới, dấu hiệu cá biệt là chức năng đặc biệt quan trọng của người làm báo, tại sao cháu không hoặc chưa nhận ra ý thức tự tôn dân tộc của nước chủ nhà? Trong lúc dân chúng và chính phủ nhiều quốc gia vẫn dùng các sản phẩm nổi tiếng thế giới, mà phần nhiều là hàng nước ngoài để đãi khách quý, vì nghĩ rằng, như thế mới “sang”, thì người Ba lan dùng toàn sản phẩm dân tộc - từ các loại rượu, đến các món ăn, đồ uống, thậm chí đến cả bao thuốc lá, bao diêm? Bài viết của cháu thiếu hẳn tính phát hiện”. Nghe bác nhắc đến tính phát hiện, ngẫm lại, tôi thấy thực ra đó là bài học, mà bác đã dạy tôi từ năm 1960, khi tôi mới 9 tuổi. Năm ấy, lần đầu tiên tôi được bác cho lên Phủ Chủ tịch cùng con cháu một số gia đình cán bộ Trung ương chúc Tết Bác Hồ và liên hoan mừng năm mới. Trong lúc chờ Bác Hồ, bác hỏi lũ cháu chúng tôi, cháu nào biết cách tìm ô-tô của bác, lúc ra về? - Thưa bác, cháu tìm đúng cái xe mầu xanh, chị Dung nhanh nhảu đáp. Bác lắc đầu. Tôi đoán, cách đó không ổn, bởi có rất nhiều xe cùng loại, cùng mầu, bèn thưa rằng, cháu sẽ tìm chú Phụng, tài xế. Bác lại cười, rồi ôn tồn bảo rằng, cả hai cách đều không chắc chắn. Xe Vôn ga mầu xanh có rất nhiều, có thể nhầm; chú Phụng có thể ra ngoài bãi để xe. Các cháu có để ý, mấy chục cái xe đến đây khác nhau ở điểm nào không? - là biển số đăng ký. Để nhận biết một vật, các cháu phải biết phát hiện ra đặc điểm riêng của nó. Mổ xẻ xong bài tập “vỡ lòng” của tôi, bác đưa cho tôi ba cuốn sổ tay bìa cứng, khá dày. Muốn trở thành nhà báo, trước tiên cháu phải tập ghi chép - bác ân cần giảng giải - cháu có thể tham khảo cách viết của bác qua mấy cuốn nhật ký này. Tôi đọc nghiến ngấu, vừa hết trang cuối thì đúng lúc bác sỹ tòng gõ cửa, kéo đi ăn sáng. Bức tranh toàn cảnh hết sức sinh động về hoạt động trên mặt trận ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống mỹ, cứu nước của dân tộc từ lúc bác rời hà nội (7-5-1968) đến khi bác hồ qua đời (2-9-1969), qua bút pháp tả thực, kiệm lời, văn phong mạch lạc, chữ nghĩa giản dị và chính xác - ngót 300 trang viết tay của bác đã khiến tôi quên hẳn giấc ngủ, đêm hôm ấy. Thực ra, trước khi đảm nhận trọng trách Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1963 -1965), nếu tính từ thời gian làm phóng viên tự do cho tờ nhật báo Trung Bắc tân văn (1934-1938), làm báo Suối reo bí mật trong nhà tù đế quốc ở Sơn la (1939-1944), rồi Chủ nhiệm kiêm Chủ bút báo Cứu Quốc (1945 - 1962), tiền thân của báo Đại Đoàn Kết ngày nay, bác đã có thâm niên nhiều thập kỷ gắn bó với nghề báo. Thế nên, dẫu có chuyển sang công tác mới, bác vẫn mang trong người dòng máu nhà báo. Song chắc chắn phải đam mê lắm, bác mới đủ sức, hầu như ngày nào cũng cần mẫn, bền bỉ ghi chép đều đặn, mỗi ngày dăm bảy trăm từ - suốt ngần ấy thời gian, sau khi đã hoàn thành cả đống công việc bề bộn của ông Bộ trưởng phụ trách một đoàn ngoại giao hàng mấy chục con người. Vắn tắt, nhưng đầy đủ, bác ghi lại nhiều sự kiện quan trọng. Với bút pháp một nhà báo sành nghề, vị Bộ trưởng hóa thân thành nhà chép sử, bác ghi lại tỷ mỷ nhiều chi tiết đặc tả về con người, thời tiết, phong cảnh địa phương…bác từng đặt chân - từ Vũ Hán đến Bắc Kinh, qua Matxcơva, rồi Paris. Không khí các cuộc tiếp xúc với thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Côxưghin…về cách bố trí phòng ốc, các trang, thiết bị nội thất (giường, tủ, bàn ghế, toa-lét…) trong khách sạn tại thủ đô nước Pháp, điều kiện sinh hoạt của đoàn trong bối cảnh: “Cả dãy hành lang có buồng của đoàn. Cảnh sát Pháp gác suốt ngày đêm” và “Các thành viên trong đoàn nói chuyện ở đây toàn phải ra hiệu bằng tay hoặc viết ra giấy”. Hãy xem “bức tranh ký họa” mấy nét giản đơn, mà bác phác họa chân dung Trưởng phái đoàn Mỹ tại cuộc họp đầu tiên diễn ra vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 13-5-1968: “… Một đại diện lễ tân Bộ Ngoại giao pháp giới thiệu Hariman với XT. Hariman 75 tuổi nhưng còn khỏe (XT 56 tuổi - NB). Tóc còn đen, chỉ hơi điểm bạc. Gương mặt càu cạu. Vừa bắt tay XT, Hariman vừa nói: “Rất mừng lại được gặp ngài (lần trước, hai chính khách gặp nhau tại Hội nghị Giơnevơ về Lào, năm 1962 - NB)”. Vance cũng bắt tay XT một cách niềm nở. Mọi người cùng bắt tay nhau”… Những cuộc đấu trí của Đoàn ta với các mánh khóe, luận điệu xảo quyệt của đối phương trên bàn hội nghị là chủ đề chính của nhật ký. Tuy nhiên, không tự giới hạn ở đây, bên cạnh những trang viết mô tả các cuộc tiếp xúc bên lề hếtsức thú vị với các chính khách nổi tiếng Châu âu và thế giới như: Tổng thống pháp Đờ-gôn, Tổng thư ký Liên hợp quốc U-than, đại sứ các nước Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Bungari…tại paris, trực tiếp trả lời phỏng vấn phóngviên báo chí Anh, Pháp, Mỹ…bác còn ghi chép nhiều nét sinh hoạt của anh em trong Đoàn, thậm chí cả những câu chuyện vui, đời thường. Có không ít sự kiện, cho dù biết chắc phải nhiều năm sau mới có thể công bố, bác cũng ghi chép chính xác từng chi tiết - ví nhưcuộc gặp riêng với đại diện Mỹ vào lúc 1 giờ 30 phút sáng ngày 31-10-1968. … Bác Xuân Thủy - Người nuôi tôi trưởng thành, thầy dạy tôi làm báo đột ngột vĩnh viễn ra đi cuối giờ chiêùngày 18 tháng 6 năm 1985, ngay tại bàn làm việc, trên trang bản thảo viết dở kỳ 13, tập Hồi ký những ngày làm báo Cứu Quốc. Tôi ngẩn ngơ nhiều ngày, vìbác mang theo cả bao dự định làm báo chưa kịp thực hiện. Còn tôi, dẫu đượcbác hết lòng chăm sóc, song vẫn chưa trở thành “thợ săn sành nghề” như hy vọng của bác Xuân Thủy kính yêu - một trong những nhà tổ chức và giảng viên chính của Lớp báo chí cách mạng Việt Nam đầu tiên mang tên Huỳnh Thúc Kháng tại chiến khu Việt Bắc, năm 1949. Tháng 9-2012 N.B
----------------------------------Xem thêm :
phong thuy, phong thủy, xem phong thuy, tử vi, xem phong thủy, xem tử vi, xem tu vi, tu vi, xem huong nha, xem hướng nhà, xem số mệnh, xem ngay, xem tuoi, phongthuy, xem tuoi lam nha, phong thuy nha o, coi tu vi, ngu hanh, phong thuy phong ngu, da phong thuy, phong thuy nha, xay nha, blog phong thuy, phong thuy nha bep, xem phong thuy theo tuoi, phong thuy huong nha, phong thuy van phong, thuat phong thuy
tranh phong thuy, đá phong thủy, phong thuy van phong, thuat phong thuy, phong thuy cho nguoi viet, vật phẩm phong thủy, phong thuy cau thang, tu vi phong thuy, lam nha, xay dung nha o, hướng giường ngủ, do phong thuy, ten phong thuy, xem ngay xay nha, nhan phong thuy, xem huong dat ban tho, xem hướng bếp theo tuổi, phong thuy nha dat, cách xem la bàn phong thủy, đồ phong thủy, la bàn phong thủy, xem huong dat, phong thuy phong tho, xem hướng bếp, phong thuy nha ve sinh, phong thuy be ca, phong thuy cua hang, dat bep theo phong thuy
Chuyên xem phong thủy ( đặt hướng nhà, hướng bàn thờ, xem mệnh có hợp đất...), tử vi ( xem số mệnh con người dựa theo giờ sinh, xem tử vi hàng năm, tử vi trọn đời...), tư vấn miễn phí. Quý vị vui lòng liên hệ Mr.Hiến , hoặc qua Mr.Cường 0984.326.325 . Xin cám ơn
Xem phong thuy Văn Hiến
Xem tu vi Văn Hiến
Xem thêm thông tin tại website : Phongthuyvanhien.com
----------------------------------------------------
Nguồn: congluan.vn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét